Thời Điểm Giao Kết Hợp Đồng Và Thời Điểm Có Hiệu Lực Của Hợp Đồng: Có Phải Cùng Một Thời Điểm ?

Rất nhiều trường hợp tranh chấp hợp đồng phát sinh chỉ vì các bên nhầm lẫn giữa “Thời điểm giao kết hợp đồng”“Thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực”. Dù hai khái niệm này thường diễn ra cùng lúc, nhưng về mặt pháp lý (theo Bộ luật Dân sự 2015), đây là hai mốc hoàn toàn khác nhau.

1. Thời điểm giao kết hợp đồng là khi nào?

Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) về thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo 4 phương thức sau:

“1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.

4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.”

Điều 400 không chỉ quy định trường hợp ký hợp đồng bằng văn bản mà còn bao quát giao kết thông qua đề nghị – chấp nhận, giao kết bằng lời nói và trường hợp các bên thỏa thuận về việc im lặng là chấp nhận. Điều này giúp quy định có tính bao quát hơn, phù hợp với thực tế giao dịch đa dạng.

Khi áp dụng vào tranh chấp cụ thể, vấn đề quan trọng vẫn là có đủ căn cứ chứng minh hành vi đó thể hiện sự chấp nhận giao kết hay không. Vì vậy, việc lưu giữ email, thông báo, văn bản xác nhận hoặc các tài liệu thể hiện quá trình giao kết có thể có ý nghĩa quan trọng khi chứng minh thời điểm hợp đồng được giao kết.

2. Thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực là khi nào?

Theo Điều 401 BLDS 2015 quy định về Hiệu lực của hợp đồng có nêu:

“1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.

2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.”

Hợp đồng dân sự luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các bên, các bên có quyền thỏa thuận về hiệu lực hợp đồng vào một ngày cụ thể trong tương lai. Ví dụ hợp đồng ký ngày 01/01 nhưng thỏa thuận hiệu lực từ ngày 15/01. Trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc luật khác quy định, hợp đồng sẽ mặc định có hiệu lực ngay tại thời điểm giao kết.

Tuy nhiên, nếu hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như người giao kết không có thẩm quyền, việc giao kết bị ép buộc hoặc nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu theo quy định của pháp luật.

3. Vì sao cần phân biệt thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng?

Việc xác định chính xác thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định quyền, nghĩa vụ của các bên và trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm. Do đó, khi ký kết hợp đồng, các bên không chỉ cần quan tâm đến ngày ký mà còn cần kiểm tra cả thời điểm hợp đồng bắt đầu có hiệu lực.

Như vậy, thời điểm giao kết hợp đồng không phải lúc nào cũng đồng nhất với thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực. Việc xác định hai thời điểm này cần căn cứ vào phương thức giao kết, thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật có liên quan trong từng trường hợp cụ thể.

Liên hệ Chúng tôi

Công ty TNHH Luật STDC 

Địa chỉ: Căn nhà HH16-11 Vinhomes Star City, Phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa. 

Hotline: 0989.985.136  

Website: stdclawfirm.com 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *